>


 

 

Danh mục đề tài cấp bộ

Những kết quả bước đầu nghiên cứu “Khảo sát nhu cầu đào tạo nâng chuẩn, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp đáp ứng với sự tham gia của Trường đại học Đồng Tháp"

13/01/2010 9:22 SA.   1156 lượt xem
Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ

Những kết quả bước đầu nghiên cứu “Khảo sát nhu cầu đào tạo nâng chuẩn, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp đáp ứng với sự tham gia của Trường đại học Đồng Tháp

(Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Hiển Dương, Trường đại học Đồng Tháp)

 

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có nhiều tiềm năng nhất là nông nghiệp và thủy, hải sản (50 % sản lượng lúa, 65 % lượng thủy hải sản, 70 % lượng trái cây so với cả nước). Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực là rất lớn. Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nói chung, cho ngành giáo dục nói riêng của vùng chưa có chiến lược cụ thể, lâu dài, mới chỉ là nhu cầu tự phát của mỗi địa phương.

Khảo sát nhu cầu, trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch, tìm kiếm các giải pháp thực hiện đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục vùng đồng bằng sông Cửu Long đúng với vai trò của Trường đại học sư phạm Đồng Tháp (nay là đại học Đồng Tháp) nhằm phát triển nguồn nhân lực là cấp thiết.

1. Đề tài đã chỉ ra tình hình giáo dục, đào tạo ở đồng bằng sông Cửu Long về quy mô và những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của từng cấp học, ngành học

- Giáo dục mầm non có phát triển nhưng chậm. Số xã trắng về cơ sở giáo dục mầm non tuy giảm, nhưng so với cả nước tỉ lệ còn cao. Việc xây dựng trường lớp tốn kém hơn, huy động trẻ đến trường phức tạp hơn, bởi đặc thù của vùng sông nước thường xuyên ngập lũ có nhiều khó khăn nhất là giao thông. Ở vùng sâu, kinh tế mang tính tự cung, tự cấp, điều kiện học tập, vui chơi của trẻ thiếu thốn, nghèo về hình thức (cả nước có 23 985 sân chơi, đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 1 231 sân, trong đó, có 680 sân có đồ chợi, số liệu 31/12/2004), đội ngũ giáo viên còn thiếu (dân số chiếm 21 %, giáo viên mẫu giáo chiếm 10,96% so với cả nước), số giáo viên chưa qua đào tạo còn nhiều;

- Giáo dục phổ thông:

Cấp tiểu học: Giáo dục tiểu học ở đồng bằng sông Cửu Long đi vào ổn định và phát triển. Tuy nhiên, do có nhiều giáo viên nữ, tình trạng bỏ việc hoặc chuyển ngành nhiều, nên thiếu gần 8000 giáo viên tiểu học, tỉ lệ tuyển thẳng chưa qua đào tạo cao (số giáo viên chưa đạt chuẩn: lớp Một 467 người, chiếm 29,7 %, lớp Hai 428 người, chiếm 32, 6 %, lớp Ba 472 người, chiếm 45,5 %). Nhiệm vụ giữ kết quả phổ cập tiểu học kết hợp xóa mù chữ của đồng bằng sông Cửu Long là hết sức khó khăn. Trong giai đoạn hiện nay, cần củng cố thành tựu đạt được, tăng số lớp học 2 buổi/ngày, dạy đủ 9 môn, tổ chức dạy học các môn tự chọn có chất lượng (số giáo viên ở đồng bằng sông Cửu Long dạy được và dạy đủ 9 môn khoảng 16,5 %). Vì vậy, chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đổi mới đáp ứng nhu cầu của giáo viên và đòi hỏi của thực tiễn.

Cấp trung học cơ sở: Giáo viên THCS được đào tạo từ nhiều nguồn (58 % có trình độ CĐSP, còn lại là Sư phạm cấp II, một số ít chưa qua đào tạo). Còn một bộ phận giáo viên gặp khó khăn trong việc tiếp thu chương trình chuẩn hóa cũng như trong thực hiện dạy học theo SGK mới. Một số loại hình giáo viên còn thiếu như: Nhạc, Họa, Thể dục, Chính trị, Ngoại ngữ, Kĩ thuật, vì vậy, “gần nửa số tiết học bỏ trống hoặc phải bố trí giáo viên không chuyên”…Cả vùng có gần 40 % số lớp được học ngoại ngữ (hầu hết là tiếng Anh), nhiều trường ở vùng sâu giáo viên dạy kiêm nhiệm hoặc chéo môn. Một trong nguyên nhân là do quy mô trường nhỏ (8 lớp/trường) khó bố trí đủ giáo viên tất cả môn học khi mà không có chỉ tiêu biên chế.

Cấp trung học phổ thông: Đồng bộ hóa đội ngũ, chỉ xét về cơ cấu loại hình giáo viên là nhiệm vụ cấp bách nhưng không dễ giải quyết…, trong khi đó, các trường sư phạm thiếu giảng viên, thiết bị để tiến hành đào tạo loại hình giáo viên này. Bình quân trong vùng, tỉ lệ giáo viên/lớp là 1,62 chưa đạt định mức quy định. Dạy học ngoại ngữ cần cơ cấu lại các môn học sao cho hợp lí, giáo viên kĩ thuật cần được đào tạo hoặc bồi dưỡng để có thể thực hiện được yêu cầu đặt ra của môn học đặc thù này…Cần đầu tư xưởng trường, nhà đa năng đảm bảo học tập một cách toàn diện cũng như việc thực hiện phân ban hợp lí. Mặt khác, số học sinh THPT của đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng (đứng thứ ba trong 7 vùng, sau Tây Nguyên và Tây Bắc), vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lí trở thành cấp bách.

- Giáo dục chuyên nghiệp

Giáo dục trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề: Ở đồng bằng sông Cửu Long, học sinh dự thi vào các trường đại học, cao đẳng nhiều gấp nhiều lần học sinh thi vào các trường nghề, do đó, độ ngũ công nhân kĩ thuật thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (10,72 % lao động có trình độ sơ cấp hoặc chứng chỉ nghề trong tổng lực lượng lao động). Nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo còn lạc hậu, thiếu liên thông, chưa gắn đào tạo với việc làm, chưa theo kịp thị trường lao động trong và ngoài nước. Đội ngũ giáo viên dạy nghề quy mô nhỏ bé (chưa quá 100 người), ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ tiên tiến, vì vậy, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Giáo dục đại học: Ở đồng bằng sông Cửu Long, có 4 trường đại học (1 dân lập), 10 trường cao đẳng sư phạm, 1 trường cao đẳng sư phạm kĩ thuật, 1 trường cao đẳng xây dựng, 4 trường cao đẳng cộng đồng, đây là tỉ lệ thấp so với các vùng trong cả nước (số liệu 2004).

-         Giáo dục không chính quy

Năm học 2004-2005 toàn vùng có 9 trung tâm giáo dục thường xuyên   cấp tỉnh, 59 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, 8 trường bổ túc văn hóa, 204 trung tâm học tập cộng đồng, 26 trung tâm ngoại ngữ-tin học, loại hình giáo dục này từng bước được củng cố và phát triển.

Các trường sư phạm đã chú ý đưa các nội dung dạy học theo SGK mới vào chính khóa cũng như bồi dưỡng. Việc tạo động lực để giáo viên tham gia bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức, chưa gắn chặt với việc bố trí công tác, xếp ngạch. Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lí giáo dục vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa qua lớp đào tạo, bồi dưỡng về quản lí giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lí giáo dục còn chậm.

Có thể nói, giáo dục và đào tạo của đồng bằng sông Cửu Long so với cả nước còn khoảng cách khá xa, cần có sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của vùng, hòa nhập với sự phát triển chung của cả nước và hộ nhập quốc tế.

2. Đề tài đã phân tích tình hình thực hiện một số chủ trương lớn về giáo dục, đánh giá, dự báo về nhu cầu đào tạo và nguồn nhân lực của đồng bằng sông Cửu Long

Hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hoàn thành giáo dục tiểu học, đã và đang tiến hành thực hiện phổ cập giáo dục THCS, đã xóa bỏ một phần bất bình đẳng trong giáo dục giữa các tầng lớp dân cư, giữa các dân tộc, giữa các vùng nhất là về giới.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống công chức cũng như trong các cơ sở lao động. Dự báo số học sinh tiểu học của vùng năm 2010 là 1 536 446. Tuy số học sinh giảm, nhưng nhu cầu giáo viên tăng do tiến tới học 2 buổi/ngày và tăng cường các hoạt động giáo dục. Đến 2010, số học sinh THCS khoảng 1 003 039, THPT 461 125, phấn đấu phần lớn các trường phổ thông có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt động cả ngày tại trường, nâng tỉ lệ giáo viên THPT có trình độ thạc sĩ lên 10 %, giảng viên TCCN có trình độ sau đại học lên 10 %, giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ 40 %, tiến sĩ 25 %, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ quản lý giáo dục. Để đáp ứng nhu cầu này, đòi hỏi phải có sự đầu tư cả vật lực cả về trí tuệ một cách mạnh mẽ.

3. Đề tài đó đề xuất các giải pháp thực hiện đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

1) Biện pháp hàng đầu là thực hiện tốt công tác nghiên cứu, điều tra, khảo sát, trên cơ sở đó, dự báo về cơ cấu nhân lực và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sẽ gắn kết được đào tạo với việc làm, giữa nhà trường và thực tiễn đời sống.

2) Phát triển chương trình đào tạo theo hướng tiên tiến, gắn với thực tiễn của vùng nhằm đạt mục tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội theo quy trình, giải pháp này, bước đầu đã mang lại hiệu quả.

3) Việc xác định hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo, nghiên cứu cấu trúc tài liệu, thiết kế bài giảng,…giúp sinh viên tự phát hiện và giải quyết vấn đề, tự đánh giá kết quả học tập là giải pháp quan trọng quá trình  tự đào tạo có hiệu quả.

4) Đổi mới phương thức đào tạo, chuyển sang đào tạo theo tín chỉ không chỉ là yêu cầu cần thiết đối với giảng viên, quan trọng hơn, đó là vai trò của cán bộ quản lý.

5) Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đào tạo và bồi dưỡng không chỉ giúp người học mở rộng kiến thức, mà quan trọng hơn, phát triển năng lực tự học và biết tự học suốt đời.

6) Kiểm định chất lượng đào tạo và bồi dưỡng là giải pháp quan trọng, bởi đánh giá không chỉ đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn giúp ích cho việc tìm ra cách để thay đổi thực trạng.

7) Thấy rõ cơ hội và thách thức trong thời kì hội nhập quốc tế, với chức năng và nhiệm vụ được giao, xác định rõ tiêu chí, mục tiêu phát triển là giải pháp có tính quyết định sự thành công trong việc thực hiện sứ mạng của Trường đại học Đồng Tháp

Nội dung của đề tài bao quát được các vấn đề có tính chất lí luận về vấn đề đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, từ mục tiêu, đến nội dung, chương trình, giáo trình, cách thức tổ chức, việc đánh giá kết quả cũng như các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và bồi dưỡng. Đề tài đánh giá và dự báo khá toàn diện, sát thưc tế về nhu cầu đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành giáo dục và đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các giải pháp đưa ra mang tính khoa học, được kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả bằng thực tiễn, phù hợp với khả năng của nhà trường.

 

NS (lược thuật)

Xem thêm
 
Tiêu điểm Xem nhiều